Đến nội dung

Tìm kiếm & từ điển

Tìm bài viết, tên sao, thuật ngữ và bài giảng; có dấu hoặc không dấu đều được. Video được tìm theo danh mục bài giảng.

Từ điển nền tảng

38 thuật ngữ
Tử Vi

Hệ thống luận đoán truyền thống tổ chức cung vị và tinh đẩu trên một lá số. Giáo trình Phúc Quang phân biệt quy tắc lập cấu trúc với việc diễn giải và giới hạn của diễn giải.

Đọc cùng ví dụ →
Âm dương

Hai mặt đối đãi, liên hệ trong một sự vật hoặc quá trình. Trong bảng Can Chi, âm dương còn là thuộc tính đã quy ước của từng ký hiệu; không phải nhãn tốt–xấu.

Đọc cùng ví dụ →
Ngũ hành

Năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy cùng các quan hệ sinh khắc có chiều. Cần chỉ rõ đang xét hành của Can, Chi, nạp âm, sao hay đối tượng khác.

Đọc cùng ví dụ →
Tương sinh

Quan hệ sinh dưỡng theo vòng Mộc → Hỏa → Thổ → Kim → Thủy → Mộc. Chủ thể sinh và đối tượng được sinh giữ vai trò khác nhau.

Đọc cùng ví dụ →
Tương khắc

Quan hệ chế khắc theo vòng Mộc → Thổ → Thủy → Hỏa → Kim → Mộc. Một quan hệ khắc riêng lẻ chưa xác định cát hung toàn lá số.

Đọc cùng ví dụ →
Thiên Can

Mười ký hiệu Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; âm dương xen kẽ và ngũ hành chia thành năm cặp.

Đọc cùng ví dụ →
Địa Chi

Mười hai ký hiệu Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Trên địa bàn, mỗi Chi là một vị trí; không đồng nghĩa tên cung chức.

Đọc cùng ví dụ →
Hoa Giáp

Chu kỳ 60 tổ hợp Can Chi tạo khi hai chuỗi cùng tiến từ Giáp Tý. Can dương phối Chi dương, Can âm phối Chi âm; chu kỳ kết ở Quý Hợi.

Đọc cùng ví dụ →
Nạp âm

Lớp quy thuộc của toàn tổ hợp Can Chi; 60 tổ hợp được chia thành 30 cặp có tên và hành nạp âm. Nạp âm không thay hành riêng của Can hoặc Chi.

Đọc cùng ví dụ →
Tuần Hoa Giáp

Một nhóm mười tổ hợp liên tiếp từ Can Giáp đến Can Quý trong vòng 60. Sáu tuần có sáu điểm khởi khác nhau; không phải tuần lễ bảy ngày hay đại vận.

Đọc cùng ví dụ →
Địa bàn

Nền mười hai vị trí Địa Chi trên đó tên cung và các sao được an vào. Vị trí Địa Chi được đọc riêng với tên cung chức và danh sách sao.

Đọc cùng ví dụ →
Cung chức

Tên phương diện đời sống như Mệnh, Phụ Mẫu, Quan Lộc, Tài Bạch được đặt trên địa bàn theo phép an. Cung chức và Địa Chi tại vị trí ấy là hai lớp thông tin.

Đọc cùng ví dụ →

Câu hỏi thường gặp

Tôi mới học thì bắt đầu từ sao hay từ cấu trúc lá số?

Nên bắt đầu bằng cách phân biệt địa bàn, tên cung và sao, rồi học âm dương, Can Chi cùng những lớp ngũ hành liên quan. Khi đọc một sao, cần biết nó đang ở cung nào và quan hệ với cung nào. Có thể đi từ bài nhập môn đến 12 cung, sau đó mới đọc các nhóm sao; chưa cần học thuộc mọi câu phú ngay.

Tìm hiểu tiếp →
Vì sao Giáp Tý vừa có Mộc, vừa có Thủy, lại được gọi Hải Trung Kim?

Vì ba tên hành nói về ba đối tượng khác nhau: Can Giáp thuộc Mộc, Chi Tý thuộc Thủy, còn nạp âm toàn tổ hợp Giáp Tý là Hải Trung Kim. Không có mâu thuẫn nếu giữ nguyên ba lớp. Sai lầm thường nằm ở việc gọi chung cả ba là một chữ “mệnh”.

Tìm hiểu tiếp →
Cùng một Thiên Can thì Tuần và Triệt có giống nhau không?

Cùng Can cho cùng vị trí Triệt theo bảng đang dùng, nhưng chưa đủ cho cùng Tuần. Tuần cần cả Can Chi để xác định tuần Hoa Giáp. Chẳng hạn Giáp Tý có Tuần tại Tuất–Hợi, Giáp Tuất có Tuần tại Thân–Dậu; cả hai cùng Triệt tại Thân–Dậu. Đây là đối chiếu phép an, chưa phải luận tốt xấu.

Tìm hiểu tiếp →
Tuần và Triệt cùng một chỗ có tự triệt tiêu nhau không?

Không thể suy như vậy chỉ từ bảng vị trí. Ví dụ Mậu Ngọ cho Tuần và Triệt cùng tại Tý–Sửu theo Chương V. Kết quả chỉ xác định hai nhãn đồng vị trí; muốn diễn giải cần điều kiện về cung, sao và tổ hợp. Nguồn không cung cấp phép cộng hoặc phần trăm tác dụng để áp dụng chung.

Tìm hiểu tiếp →
Có Lộc Tồn và Thiên Mã là sẽ giàu hoặc đi nước ngoài?

Bảng an không đủ cho kết luận ấy. Trước hết cần biết hai sao đồng cung, đối cung hay quan hệ khác, rồi xác định tên cung và các thành phần liên quan. Ngay cả khi cấu trúc đã đủ, cách đọc truyền thống không thay dữ kiện công việc, nguồn lực và lựa chọn thực tế.

Tìm hiểu tiếp →
Tại sao hai tài liệu ghi Tràng Sinh khác nhau?

Hãy kiểm tra đối tượng trước: bảng cho hành, bảng cho từng Thiên Can và vòng được an trên lá số có thể không cùng căn cứ. Chương IV dùng bảng mười Can để giải thích Lộc Tồn, còn Chương III khai triển bảng bốn hành đi thuận. Riêng khởi điểm của Thổ ở hình Chương III còn thiếu điều kiện chọn; không nên tự ghép thành một bảng duy nhất.

Tìm hiểu tiếp →
Tôi gặp “Bệnh”, “Tử” trong vòng Tràng Sinh có phải là dự báo sức khỏe?

Không. Trong giáo trình, đó là các tên trạng thái tượng trưng của một chu trình và phải gắn với đối tượng đang xét. Chữ Bệnh không phải chẩn đoán; chữ Tử không xác định cái chết thực tế. Đọc tên trạng thái như sự kiện chắc chắn là đi quá nội dung bảng.

Tìm hiểu tiếp →
Công cụ lập lá số trên website có dùng đúng toàn bộ bảng của giáo trình này chưa?

Các bài học hiện giải thích bảng trong tài liệu Phúc Quang đã cung cấp. Chưa thể từ việc đăng bài mà khẳng định thuật toán của công cụ đã được đối chiếu từng quy tắc. Khi kết quả khác nhau, giữ dữ liệu nhập, quy ước lịch và vị trí sai khác để kiểm tra; không sửa bảng hoặc kết luận theo phần mềm một cách tự động.

Tìm hiểu tiếp →