Đến nội dung
Trang chủ/Tử Vi/Phụ tinh

Lộc Tồn và Thiên Mã: an riêng từng sao rồi mới đọc quan hệ

Hai bảng theo Can và Chi giúp kiểm tra khi nào Lộc Tồn, Thiên Mã đồng cung hoặc đối cung; không lấy tên sao làm lời hứa tài lộc.

Mục lục bài viết

Vì sao cần an riêng hai sao?

Gặp hai chữ “Lộc Mã”, người mới dễ nghĩ đến một kết luận sẵn về tiền bạc và đi xa. Điểm bắt đầu là phép an của từng sao: Lộc Tồn được an từ Thiên Can năm sinh, còn Thiên Mã được an từ nhóm tam hợp của Địa Chi năm sinh. Hai sao có căn cứ khác nhau trước khi được phối hợp trên cùng địa bàn.

“An sao” nghĩa là xác định vị trí theo quy tắc. “Luận sao” là bước diễn giải ý nghĩa khi đã đặt vào cung và tổ hợp cụ thể. Làm đúng bước đầu giúp tránh bàn rất dài về một quan hệ vốn không có trên lá số.

Lộc Tồn: lấy Can năm làm khóa tra

Can nămVị trí Lộc Tồn
GiápDần
ẤtMão
Bính, MậuTỵ
Đinh, KỷNgọ
CanhThân
TânDậu
NhâmHợi
QuýTý

Bảng trên quy mười Can về tám vị trí. Lộc Tồn không nằm tại Thìn, Tuất, Sửu, Mùi trong phép an này. Không lấy hành nạp âm để thay Can năm làm khóa tra.

Sau khi đặt Lộc Tồn, Kình Dương nằm ở cung kế tiếp theo chiều Địa Chi, Đà La nằm ở cung liền trước. Với Can Giáp, Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão, Đà La ở Sửu. “Giáp hai bên” ở đây là quan hệ kề cung, không có nghĩa mọi hình lá số đều đặt Kình bên phải và Đà bên trái trên màn hình.

Thiên Mã: lấy nhóm Chi năm làm khóa tra

Tam hợp là nhóm ba Địa Chi cách nhau bốn bước trong vòng mười hai Chi. Phép an Thiên Mã dùng bốn nhóm sau:

Nhóm Địa Chi năm sinhVị trí Thiên Mã
Thân–Tý–ThìnDần
Dần–Ngọ–TuấtThân
Tỵ–Dậu–SửuHợi
Hợi–Mão–MùiTỵ

Thiên Mã vì vậy chỉ xuất hiện tại Dần, Thân, Tỵ hoặc Hợi trong bảng này. Hai năm cùng nhóm Chi có cùng vị trí Thiên Mã, nhưng chưa chắc cùng Lộc Tồn vì Can năm có thể khác.

Hai ví dụ làm thay đổi hẳn quan hệ

Ví dụ giả định thứ nhất dùng tổ hợp năm Giáp Tý. Can Giáp đặt Lộc Tồn ở Dần. Chi Tý thuộc nhóm Thân–Tý–Thìn, đặt Thiên Mã cũng ở Dần. Hai sao đồng cung, nghĩa là cùng một ô địa bàn.

Ví dụ giả định thứ hai dùng Giáp Ngọ. Lộc Tồn vẫn ở Dần vì Can vẫn là Giáp. Thiên Mã chuyển sang Thân vì Ngọ thuộc nhóm Dần–Ngọ–Tuất. Dần và Thân đối diện nhau, nên quan hệ lúc này là đối cung, không phải đồng cung.

Cả hai ví dụ chưa có tháng và giờ để xác định tên cung tại Dần hay Thân. Vì thế, chưa thể viết Lộc Mã ở Mệnh, Tài Bạch hoặc Quan Lộc. Từ bảng an theo năm tới một cung chức cụ thể vẫn còn dữ liệu phải bổ sung.

Không lẫn Lộc Tồn với Hóa Lộc và Bác Sỹ

Lộc Tồn có vị trí tra trực tiếp theo Can. Hóa Lộc thuộc Tứ Hóa: xác định sao nhận Hóa rồi ghi Hóa tại cung có sao ấy, theo bảng đang sử dụng. Cùng chữ Lộc không làm hai đối tượng trở thành một. Cần hoàn thành hai thao tác riêng trước khi đối chiếu vị trí.

Bác Sỹ được đặt cùng cung Lộc Tồn nhưng là một sao khác, mở đầu vòng mười hai sao. Đổi chiều vòng Bác Sỹ không làm Lộc Tồn đổi vị trí. Muốn an đủ vòng Bác Sỹ, cần áp dụng riêng quy tắc thuận–nghịch; không suy chiều của cả vòng chỉ từ vị trí Lộc Tồn.

Không lấy tên sao làm kết luận

Trong cách giải thích theo bốn hành của nhóm tam hợp, Thiên Mã được đối chiếu với mốc Bệnh của chu kỳ Trường Sinh đi thuận. Đây không phải trạng thái Bệnh trong vòng Trường Sinh an theo Cục của một lá số; cần giữ riêng hai hệ như ở bài Vòng Trường Sinh. Điều đó không đổi tên Thiên Mã thành Bệnh, cũng không phải chẩn đoán sức khỏe. Tương tự, Lộc Tồn không tự bảo đảm tài sản và Thiên Mã không tự xác nhận xuất ngoại.

Bài tập nên dừng đúng chỗ: chọn một Can Chi hợp lệ, ghi hai khóa tra, xác định hai vị trí rồi gọi đúng quan hệ. Sau đó mới bổ sung tên cung, chính tinh, các sao liên quan và câu hỏi đang học. Có thể đọc tiếp tam phương tứ chính để phân biệt vị trí tọa thủ với quan hệ hội chiếu.

← Xem toàn bộ lộ trình học

Bài liên quan