Đến nội dung

Ngũ hành: đọc đúng chiều sinh khắc và đúng lớp thông tin

Giải thích hai vòng sinh khắc, ba lớp ngũ hành của Can Chi và lý do không thể suy tốt xấu từ một cặp hành.

Mục lục bài viết
Cận cảnh la bàn phong thủy màu đen với nhiều vòng ký hiệu và chữ Hán màu vàng.

Ảnh tư liệu: La bàn trong sưu tập Whipple · Marsupium · CC0 1.0 · Nguồn ảnh

Năm hành là một hệ quan hệ

Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy vừa có hình tượng quen thuộc, vừa được dùng để biểu thị nhóm tính chất trong hệ thống truyền thống. Có thể ghi nhớ Mộc qua sinh trưởng, Hỏa bằng nhiệt và chiều bốc lên, Thủy bằng chiều lắng xuống, Thổ bằng chứa đựng và nuôi dưỡng, Kim bằng tính cứng rắn và thanh tĩnh.

Hình tượng giúp nhớ, nhưng quy tắc nằm ở quan hệ giữa các hành. Nếu chỉ ghi “Mộc là cây, Thủy là nước”, người học dễ dùng một quan sát đời thường để tự thêm một mũi tên không có trong bảng.

Hai vòng cần thuộc cùng chiều

Vòng tương sinh là Mộc → Hỏa → Thổ → Kim → Thủy → Mộc. Tương sinh diễn tả quan hệ sinh dưỡng trong hệ quy chiếu. Vòng tương khắc là Mộc → Thổ → Thủy → Hỏa → Kim → Mộc, diễn tả quan hệ chế khắc.

Mũi tên có chiều. “Mộc khắc Thổ” và “Mộc bị Kim khắc” cùng nói về Mộc nhưng Mộc giữ hai vai trò khác nhau. Khi đổi cách diễn đạt, phải giữ đúng hai hành và chiều quan hệ: “Mộc khắc Thổ” tương đương “Thổ bị Mộc khắc”, không tương đương “Mộc bị Thổ khắc”.

Lấy Mộc làm đối tượngHành liên quanCách đọc
Được sinhThủyThủy sinh Mộc
Sinh raHỏaMộc sinh Hỏa
KhắcThổMộc khắc Thổ
Bị khắcKimKim khắc Mộc

Bốn câu đầy đủ này hữu ích hơn việc chỉ khoanh một chữ “sinh” hoặc “khắc”. Khi chuyển sang cung và sao, vẫn cần giữ rõ ai là đối tượng đang được xét.

Một tổ hợp có thể mang ba lớp ngũ hành

Xét tổ hợp Giáp Tý: Can Giáp thuộc Mộc; Chi Tý thuộc Thủy; nạp âm của toàn tổ hợp là Hải Trung Kim. Ba nhận xét cùng đúng trong bảng vì chúng nói về ba đối tượng khác nhau.

Nạp âm là lớp quy thuộc của tổ hợp Can Chi trong vòng sáu mươi Hoa Giáp. Không lấy hành của Can hoặc Chi làm kết quả nạp âm. Chẳng hạn, Canh và Thân cùng thuộc Kim, nhưng Canh Thân có nạp âm Thạch Lựu Mộc. Đây là điều phải tra đúng hệ, không phải “ngoại lệ” cần sửa cho vừa một phép cộng hành.

Hành của tam hợp không thay hành của từng Chi

Tam hợp Thân–Tý–Thìn được quy về Thủy. Tuy vậy, Thân vẫn thuộc Kim, Tý thuộc Thủy và Thìn thuộc Thổ ở bảng thuộc tính từng Chi. Hành chung của nhóm không đổi tên ba thành viên thành ba Chi Thủy.

Tương tự, Dần–Ngọ–Tuất thuộc Hỏa, Tỵ–Dậu–Sửu thuộc Kim và Hợi–Mão–Mùi thuộc Mộc. Bốn tam hợp không có một nhóm Thổ riêng. Điều ấy không có nghĩa Thổ biến mất: bốn Chi Thổ tham gia bốn nhóm ở những vị trí cụ thể.

Những chỗ dễ học thành một quy tắc sai

“Đất nuôi cây” là hình tượng có thể hiểu được trong đời thường, nhưng không biến vòng tương sinh thành Thổ sinh Mộc. Cũng không thể thấy một quan hệ sinh rồi kết luận toàn lá số tốt, hoặc thấy một quan hệ khắc rồi kết luận cả đời bất lợi. Sinh khắc mới xác định một quan hệ; chưa xác định toàn bộ kết quả.

Với hành Thổ, cần xác định quy ước của hệ đang học trước khi tra Tràng Sinh. Không tự lấy điểm khởi của Hỏa hoặc Thủy gán cho Thổ mà bỏ qua điều kiện của phép tra. Khi chưa xác định được quy ước, nên giữ riêng phần này và tránh dùng nó làm căn cứ luận.

Bài tập ba lớp

Với Giáp Tý và Canh Thân, tự lập ba cột Can, Chi, nạp âm. Sau đó viết một câu sinh khắc giữa Can và Chi, có chủ thể và chiều rõ ràng. Đây là bài tập kiểm tra thuật ngữ, không phải ví dụ đoán vận. Học tiếp vòng sáu mươi Can Chi để hiểu vì sao các lớp ấy được tổ chức như vậy.

← Xem toàn bộ lộ trình học

Bài liên quan