Đến nội dung
Trang chủ/Tử Vi/Vận hạn và nghiệm lý

Tiểu hạn và Lưu niên: kiểm một ví dụ tuổi trước khi luận năm

Tiểu hạn đặt một điểm nhìn theo tuổi âm, còn Lưu niên mang Can Chi của năm đang xem. Bài học đếm tuổi một, hai và mười ba để phát hiện sai lệch, rồi theo dõi nguồn của Tứ Hóa mà không nhập các lớp thành một.

Mục lục bài viết

Một năm có nhiều lớp nhưng cần nhãn riêng

Trên một lá số đang xem năm, Tiểu hạn, Lưu Thái Tuế và các Hóa năm có thể cùng xuất hiện. Chúng không phải những tên thay thế cho cùng một đối tượng. Tiểu hạn xác định một cung hạn theo tuổi; Lưu niên dùng Can Chi năm đang xét để an các yếu tố lưu. Giữ riêng căn cứ giúp người học biết ký hiệu nào được tính bằng quy tắc nào.

Còn có Lưu Đại vận năm, là điểm bổ sung theo vị trí năm trong chặng Đại vận. Nó cũng không thay Can của Đại vận. Khi gặp một ký hiệu lạ, nên hỏi đầu vào và lớp thời gian trước, chưa vội đem tên sao vào lời dự đoán.

Tiểu hạn tuổi một đứng ngay ở cung khởi

Theo bảng Phúc Quang, người sinh nhóm Thân–Tý–Thìn khởi Tiểu hạn tuổi một tại Tuất; nhóm Tỵ–Dậu–Sửu khởi tại Mùi; nhóm Dần–Ngọ–Tuất tại Thìn; nhóm Hợi–Mão–Mùi tại Sửu. Nam đi thuận, nữ đi nghịch theo phép này. Chiều Tiểu hạn ở đây không được tự thay bằng quy tắc âm dương nam nữ của một vòng khác.

Điểm dễ lệch là tuổi một đã ở ngay cung khởi. Tuổi hai mới di chuyển một bước. Khi kiểm một bảng tuổi, nếu tuổi một đã bị đẩy sang cung kế tiếp thì toàn chuỗi sẽ lệch, dù thứ tự địa chi phía sau vẫn có vẻ hợp lý.

Ví dụ bộ phận với ba mốc tuổi

Giả sử chỉ biết một trường hợp nam sinh thuộc nhóm Thân–Tý–Thìn. Theo quy tắc trên, tuổi một ở Tuất, tuổi hai đi thuận một cung tới Hợi. Sau mười hai bước, tuổi mười ba trở lại Tuất. Đây là ví dụ về đếm vị trí, chưa có ngày giờ sinh để dựng cung chức năng, chính tinh hoặc luận chuyện xảy ra.

Nếu đổi sang trường hợp nữ cùng nhóm Chi năm, tuổi một vẫn tại Tuất nhưng tuổi hai đi nghịch tới Dậu; tuổi mười ba cũng trở lại Tuất. Hai đường đếm khác nhau cùng có một mốc kiểm vòng. Không được thấy Tiểu hạn tại Tuất rồi gọi ngay đó là Quan Lộc hoặc Phu Thê: tên cung còn phụ thuộc lá số gốc.

Tuổi âm khác việc chờ sinh nhật dương

Tuổi dùng trong phép này được tính bằng năm âm đang xem trừ năm âm sinh rồi cộng một. Với người sinh đầu năm dương lịch nhưng trước Tết, năm âm có thể thuộc năm trước. Vì thế, nếu dữ liệu đã đổi tháng và ngày sang âm mà vẫn lấy năm dương để tính tuổi, cung Tiểu hạn có thể sai.

Khi kiểm một trường hợp thật, cần ghi rõ năm âm sinh, năm âm xem và kết quả tuổi. Không nên tự dựng một ngày sinh để minh họa nếu chưa kiểm đổi lịch. Bài tập đếm một, hai, mười ba ở trên cố ý giữ dữ liệu bộ phận để thấy chính xác bước kỹ thuật mà không tạo cảm giác đã lập đủ mệnh bàn.

Lưu niên lấy Can và Chi để làm những việc khác nhau

Can năm xem dùng cho Tứ Hóa năm và các nhóm theo Can như Lộc Tồn–Kình–Đà, Khôi–Việt theo bảng đã chọn. Chi năm dùng cho Lưu Thái Tuế, Thiên Mã, Khốc–Hư cùng các sao hàng Chi được bật. Ví dụ năm Bính Ngọ có phần Can Bính phát Tứ Hóa; phần Chi Ngọ đặt Lưu Thái Tuế tại Ngọ và xác định Thiên Mã theo nhóm Dần–Ngọ–Tuất.

Tiểu hạn không tự phát một bộ Tứ Hóa riêng. Nếu một sao nhận Hóa Lộc năm nằm tại cung Tiểu hạn, vẫn phải gọi đúng Hóa theo Can năm. Cùng vị trí không đổi nguồn phát Hóa. Đây là khác biệt giữa một điểm nhìn theo tuổi và một lớp sao an từ Can Chi.

Từ phép kiểm đến lời luận năm

Thứ tự đọc giữ bản mệnh trước, Đại vận tạo bối cảnh, Lưu niên nêu trọng tâm rồi Tiểu hạn bổ sung góc tuổi. Nếu các lớp khác nhau về trọng tâm, không chọn lớp nghe thuận lợi hơn để bỏ lớp còn lại. Một năm có thể vừa mở công việc vừa đặt thêm yêu cầu về nguồn lực; cần viết cơ chế và điều kiện, không dùng phép cộng cát hung.

Bài tập là chọn một Hóa trên lá số năm, ghi Can nguồn, sao nhận Hóa, cung gốc chứa sao và quan hệ với Tiểu hạn. Nếu nhiều lớp cùng nhấn một sao hoặc cung, ghi là lặp trọng tâm, chưa nhân cường độ. Chỉ sau khi có bối cảnh đời sống mới nâng từ chủ đề sang giả thuyết sự kiện, và giả thuyết ấy vẫn cần tiêu chí để đối chiếu.

← Xem các bài Tử Vi

Bài liên quan