Đến nội dung

Kinh Dịch trong tư tưởng Việt Nam: từ kinh điển Hán Nôm đến cách đọc hôm nay

Theo dấu sách học, bản diễn nghĩa chữ Nôm và công trình quốc ngữ để hiểu người Việt đã tiếp nhận Kinh Dịch ra sao, cùng ý nghĩa của Dịch học đối với cách sống và lựa chọn hôm nay.

Mục lục bài viết

Một bộ kinh, nhiều con đường đi vào đời sống Việt

Kinh Dịch có mặt trong văn hóa Việt Nam qua nhiều lớp tiếp nhận: đọc kinh điển trong nhà trường, bình giải bằng chữ Hán, diễn nghĩa bằng chữ Nôm, viết sách quốc ngữ và thực hành các phép chiêm. Nhìn những lớp ấy riêng biệt, ta mới thấy người Việt đã học, lựa chọn và giải thích Dịch như thế nào.

Lịch sử tiếp nhận không thể thu vào tên một người truyền dạy. Cũng không nên lấy một giai thoại đoán đúng vận nước làm đại diện cho toàn bộ Dịch học. Điều đáng tìm hiểu là những văn bản còn lại, cách chúng được sử dụng và câu hỏi mà người viết đặt ra.

Dấu vết từ nhà trường và sách học

Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Anh về hệ sách Đại toàn, dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư, ghi nhận năm 1419 nhà Minh đưa hệ sách Ngũ kinh, Tứ thư và Tính lý đại toàn tới trường học ở các phủ, châu, huyện. Dịch thuộc hệ Ngũ kinh. Đây là chứng cứ về sự truyền bá một hệ sách chú giải trong bối cảnh giáo dục, không phải niên đại đầu tiên Kinh Dịch đến Việt Nam.

Qua con đường nhà trường, người học tiếp cận cả kinh văn lẫn lời giải của tiền nhân. Vì vậy, một quan niệm được truyền lâu đời có thể đến từ bản chú giải đang được dùng, không nhất thiết là câu chữ trực tiếp của kinh. Nhận ra lớp trung gian này giúp ta hiểu vì sao các bản giải Dịch vừa có phần chung, vừa có khác biệt.

Chữ Nôm và công việc làm cho kinh dễ học hơn

Trong khảo sát Dịch kinh tiết yếu, Nguyễn Phúc Anh phân biệt ba nhóm văn bản, trong đó có nhóm bổ sung phần diễn nghĩa chữ Nôm. Hệ Ngũ kinh tiết yếu gắn với Bùi Huy Bích được sử dụng rộng rãi; quá trình sao chép, khắc in và bổ sung tạo ra nhiều dị bản.

Những chứng tích ấy cho thấy tiếp nhận không chỉ là mang sách từ nơi khác tới. Người làm sách còn chọn phần trọng yếu, tổ chức lời giải và chuyển nghĩa để phục vụ người học. Nhưng bản rút gọn cũng có thể bỏ mất một bước lập luận. Người đọc hôm nay cần biết mình đang dùng toàn văn, bản tiết yếu hay bản diễn nghĩa; ba loại sách ấy đáp ứng những nhu cầu khác nhau.

Lê Văn Ngữ: đọc Dịch để chất vấn và tìm lời giải

Khảo cứu về Chu Dịch cứu nguyên của Lê Văn Ngữ ghi nhận nỗ lực kết hợp tượng số, nghĩa lý và chiêm bốc. Tượng số chú trọng hình quẻ và các quan hệ số; nghĩa lý đi vào ý nghĩa tư tưởng, đạo đức; chiêm bốc hướng tới việc hỏi và đoán qua quẻ. Tác phẩm thể hiện cả sự kế thừa lẫn những ý kiến phê bình chú giải trước đó.

Trường hợp này đáng chú ý vì người đọc Việt không chỉ giữ lại lời cũ. Họ còn thử dùng Dịch để suy nghĩ về vấn đề của thời mình. Tuy nhiên, giá trị lịch sử của một nỗ lực không có nghĩa mọi kết luận trong đó đều đúng. Tiếp nối tinh thần nghiên cứu là tiếp tục hỏi, đối chiếu và sửa chỗ chưa thỏa đáng.

Phan Bội Châu và nhu cầu diễn giải bằng quốc văn

Với Quốc văn Chu Dịch diễn giải, Phan Bội Châu là một gương mặt cần được nhắc đến khi tìm hiểu Dịch học bằng tiếng Việt. Trong lời giới thiệu mang tên Huỳnh Thúc Kháng, công trình được nhìn nhận theo hướng vũ trụ quan và nhân sinh quan, với việc giải nghĩa quẻ, hào và các lời truyện. Đó là một chứng tích rõ của mong muốn đưa nội dung tư tưởng đến người đọc quốc văn.

Vũ trụ quan hỏi thế giới được hình dung và vận động ra sao. Nhân sinh quan hỏi con người nên sống, lựa chọn và chịu trách nhiệm thế nào trong thế giới ấy. Hai câu hỏi này mở rộng việc học Dịch: người học không chỉ chờ một lời báo trước, mà còn suy xét cách hành động giữa hoàn cảnh đang đổi thay.

Từ bản dịch quốc ngữ đến người tự học

Những công trình tiếng Việt tạo thêm lối vào cho người không đọc được nguyên văn chữ Hán. Thư viện Khánh Hòa lưu biểu ghi Kinh Dịch do Ngô Tất Tố dịch và chú giải. Thư viện Dòng Tên ghi nhận Kinh Dịch: Đạo của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê. Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu Dịch học tinh hoa của Nguyễn Duy Cần như một công trình trình bày nền tảng Dịch học cho người đọc.

Các tên sách ấy cho thấy người học có thể đi vào Dịch qua dịch thuật, chú giải hoặc khảo luận. Không nên mặc nhiên xem chúng là cùng một giáo trình. Khi hai sách giải khác nhau, hãy đối chiếu cùng một quẻ, cùng một hào và cùng lớp văn bản; khác cách dịch chưa chắc đã là khác toàn bộ phương pháp.

Học về biến đổi để hiểu trách nhiệm của mình

Một hướng đọc triết học được Tze-ki Hon trình bày tại Stanford Encyclopedia of Philosophy đặt trọng tâm vào khả năng sống có trách nhiệm khi hiểu biết của con người luôn hữu hạn. Từ góc nhìn này, quẻ giúp tổ chức suy nghĩ về hoàn cảnh, quan hệ và hành động; nó không trao cho người đọc quyền biết chắc mọi điều sẽ xảy ra.

TỬ VI PHÚC QUANG đề xuất vận dụng tinh thần đó bằng ba câu hỏi: hoàn cảnh đang thay đổi điều gì; bản thân đang đảm nhận vai trò nào; lựa chọn của mình ảnh hưởng đến ai? Đây là định hướng học và suy ngẫm, không phải một công thức dự đoán rút thẳng từ mọi quẻ.

Ví dụ minh họa: một người đang cân nhắc nhận công việc quản lý. Thay vì dừng ở câu hỏi nhận chức có tốt không, họ cần làm rõ năng lực hiện có, quyền hạn thực tế, đội ngũ hỗ trợ và trách nhiệm với người dưới quyền. Những dữ kiện này giúp việc suy ngẫm có đối tượng cụ thể. Một lời giải đẹp nhưng không chạm đến hoàn cảnh sống vẫn khó giúp người đọc quyết định sáng suốt.

Phân biệt kinh điển với phép ứng dụng hôm nay

Đọc lời quẻ, học một phương pháp lập quẻ và quy đổi số điện thoại thành quẻ là ba công việc khác nhau. Nếu một ứng dụng dùng số để lập quẻ, ứng dụng cần nêu rõ phương pháp và giới hạn của cách diễn giải. Có cùng tên quẻ chưa đủ để chứng minh hai ứng dụng dùng cùng phương pháp, càng chưa đủ để kết luận một dãy số quyết định thành bại của người sử dụng.

Khi học tại Phúc Quang, người đọc nên đi từ cấu trúc văn bản đến cách đọc, rồi mới tìm hiểu từng phép ứng dụng. Có thể bắt đầu với Kinh Dịch hình thành qua nhiều lớp, sau đó đọc Cách đọc Kinh Dịch qua các bản dịch. Hiểu quá trình tiếp nhận ở Việt Nam giúp ta trân trọng công sức của người đi trước, đồng thời biết phần nào cần giữ, phần nào cần tiếp tục khảo cứu.

← Xem toàn bộ lộ trình học

Bài liên quan