Đến nội dung

Bát Tự trong huyền học Việt Nam: từ dấu vết Hán học đến sách Tử Bình tiếng Việt

Theo dấu Tử Bình qua Lê Quý Đôn, Phan Kế Bính, lời tựa tại Sài Gòn năm 1973 và xuất bản hiện đại để hiểu quá trình tiếp nhận, tên gọi và phương pháp.

Mục lục bài viết

Bát Tự đến Việt Nam: nhìn qua những dấu vết còn lại

Một học thuật có thể được biết đến từ lâu nhưng phải trải qua nhiều thế hệ mới có sách nhập môn bằng tiếng Việt. Đó là điểm cần nhớ khi tìm hiểu Bát Tự trong huyền học Việt Nam. Sự hiện diện trong thư tịch, hoạt động truyền dạy và khả năng tiếp cận của người học là những lớp lịch sử khác nhau.

Bài này theo dấu Tử Bình qua trước tác của người Việt, một lời tựa viết tại Sài Gòn và thư mục xuất bản hiện đại. Các dấu mốc giúp nhận ra quá trình tiếp nhận; chúng chưa xác định được người đầu tiên hoặc năm đầu tiên truyền Bát Tự vào nước ta.

Ba tên gọi, một yêu cầu nhận diện đúng phương pháp

Bát Tự là tám chữ Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh; Tứ Trụ là bốn cặp Can Chi ấy. Tử Bình gắn với truyền thống phương pháp luận mệnh mang tên Từ Tử Bình. Phần hình thành tại Trung Quốc đã được trình bày trong bài từ mệnh thuật đến Tử Bình.

Khi khảo sát một tài liệu Việt Nam, chỉ gặp chữ “bát tự” chưa đủ để kết luận đó là giáo trình Tử Bình. Cần đọc xem tám chữ được dùng làm gì: phân tích quan hệ trong bốn trụ hay chuyển thành số để lập quẻ? Dữ liệu đầu vào giống nhau có thể phục vụ những hệ thống khác nhau. Chính cách xử lý dữ liệu mới cho biết ta đang học bộ môn nào.

Dấu vết trong thế giới học thuật Hán văn

Trong nghiên cứu về quan niệm và thực hành bốc phệ của nhà nho Việt Nam, Bùi Bá Quân ghi nhận Lê Quý Đôn bàn đến Tử Bình trong phần Lý khí của Vân đài loại ngữ. Tác giả cũng nhắc Nguyễn Văn Lý trong số những nhà nho nghiên cứu cả Tử Bình, Tử Vi và bói cỏ thi. Những dẫn liệu này đặt Tử Bình trong môi trường học thuật của giới trí thức Việt Nam.

Kho số hóa của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm còn giới thiệu Vân đài loại ngữ, quyển một, ký hiệu R.118, ghi tác giả Lê Quý Đôn, văn bản chữ Hán, hình thức viết tay; bản này không ghi năm. Đây là một đường vào tư liệu gốc để tiếp tục khảo cứu. Tuổi đời của tác phẩm và tuổi đời của bản chép đang cầm trên tay cần được phân biệt.

Từ các dấu vết ấy, có thể nhận ra một lớp tiếp nhận qua văn bản Hán học. Chưa thể suy ra mọi nhà nho đều học Tử Bình, càng chưa thể coi một nhận xét trong sách là chứng cứ rằng phương pháp đã phổ biến đồng đều trong dân gian.

Một phân biệt đáng chú ý ở Phan Kế Bính

Trong thiên Toán số của Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính nhắc Tử Bình khi kể các phép đoán mệnh. Khi nói những phép thường dùng, ông lại nêu Hà Lạc, Tiền định và Tử Vi. Ông mô tả Hà Lạc sử dụng tám chữ Can Chi để ghép vào quái hào.

Đặt hai đoạn cạnh nhau cho thấy: một tác giả biết tên Tử Bình không có nghĩa ông đánh giá mức lưu hành của nó giống các phép khác. Đồng thời, tám chữ ngày giờ sinh không thuộc riêng một cách luận. Đây là ghi nhận của Phan Kế Bính; không nên biến nó thành thống kê cho mọi vùng và mọi thời kỳ.

Với người học hôm nay, phân biệt này rất thiết thực. Khi một phần mềm cùng có mệnh bàn bốn trụ và quẻ mệnh, cần biết mỗi kết quả dùng quy tắc nào. Không thể lấy một lời quẻ rồi coi đó là kết luận rút trực tiếp từ quan hệ Can Chi trong mệnh bàn.

Sài Gòn năm 1973: một lời tựa dành cho người muốn bắt đầu

Một dấu mốc rõ hơn về việc trình bày Tử Bình bằng tiếng Việt nằm trong Lời tựa Tử Bình Nhập Môn của Lâm Thế Đức, ghi nơi viết Sài Gòn và năm 1973. Tác giả cho rằng bộ môn còn ít phổ biến ở nước ta và bày tỏ mong muốn giúp việc nghiên cứu phát triển. Ông giới thiệu việc lập tám chữ, xét cách cục, dụng thần và vận hạn.

Lời tựa ấy cho thấy một nỗ lực mở lối học có hệ thống. Người viết hướng đến độc giả Việt Nam, giải thích nền tảng rồi mới dẫn vào luận đoán. Tuy nhiên, lời nhận xét “ít phổ biến” là quan sát của tác giả tại thời điểm viết; năm 1973 không phải vì thế trở thành năm Bát Tự lần đầu đến Việt Nam. Những lời đề cao độ chính xác trong lời tựa cũng cần được đọc như quan điểm của người hành nghề, không thay cho nghiên cứu kiểm chứng.

Từ tên gọi trong cổ thư đến sách nhập môn hiện đại

Thư mục Quốc gia tháng 2 năm 2022 ghi nhận Tử Bình nhập môn do Nguyễn Ngọc Hải biên soạn, Nguyễn Văn Chinh hiệu đính, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2021, 442 trang. Cùng thư mục có Tự xem Bát tự Tứ trụ của Quảng Tuệ, bản tái bản do Nhà xuất bản Thanh Hóa xuất bản năm 2021, 287 trang.

Hai biểu ghi cho thấy các tên Tử Bình, Bát Tự và Tứ Trụ cùng hiện diện trong xuất bản tiếng Việt. Đây là chứng cứ về sách đã được xuất bản, không phải xác nhận của thư viện đối với mọi luận điểm trong sách. Nếu muốn tìm hiểu một phương pháp, người đọc vẫn cần xem nội dung, cách định nghĩa thuật ngữ và ví dụ tính toán của chính tác giả.

Nhìn các lớp tư liệu cạnh nhau, ta thấy một hành trình có thể khảo sát: hiện diện trong trước tác Hán văn; nỗ lực diễn giải cho độc giả Việt; rồi các sách mang hình thức nhập môn và thực hành. Những khoảng thời gian ở giữa vẫn cần được lấp bằng tư liệu, thay vì một câu chuyện truyền thừa quá tròn trịa.

Tiếp nhận có chiều sâu bắt đầu từ cách đặt câu hỏi

Việc học Bát Tự tại TỬ VI PHÚC QUANG nên tiếp nối quá trình ấy bằng khả năng giải thích. Một thuật ngữ chỉ thật sự trở thành kiến thức khi người học hiểu nó chỉ quan hệ nào và phải xét cùng điều kiện gì.

Chẳng hạn, gặp chữ “Tài”, ta cần hỏi đó là tên một quan hệ trong hệ thống đang học hay lời mô tả tiền bạc ngoài đời. Gặp chữ “mệnh”, cần biết người viết đang nói về Can ngày, nạp âm hay một nghĩa khác. Chưa làm rõ điểm quy chiếu mà đã chuyển sang kết luận giàu nghèo thì người học sẽ nhớ được lời đoán nhưng không hiểu được cách lập luận.

Một ví dụ minh họa: hai người cùng ghi “mệnh Mộc” có thể đang dùng hai cách xác định khác nhau. Nếu người thứ nhất nói về nạp âm năm sinh, người thứ hai nói về hành của Can ngày, việc tranh luận ai đúng sẽ đi lệch ngay từ đầu. Điều cần làm trước là thống nhất nghĩa của chữ “mệnh”, rồi mới đối chiếu từng phép tính. Đây là yêu cầu về sự rõ ràng, không phải một lá số thực tế.

Hiểu lịch sử tiếp nhận vì vậy dẫn tới một cách học vững hơn: biết văn bản đang đọc thuộc thời nào, biết tên gọi có thể khác nghĩa, biết giữ riêng các phương pháp trước khi so sánh. Bước thực hành tiếp theo là chuẩn bị hồ sơ dữ liệu Bát Tự: xác nhận ngày giờ và quy ước lập mệnh bàn trước khi bàn đến ý nghĩa. Chiều sâu bắt đầu từ việc hiểu đúng từng bước nhỏ như vậy.

← Xem toàn bộ lộ trình học

Bài liên quan