Viết lời luận có căn cứ và mức độ chắc chắn
Một lời luận rõ cần phân biệt dữ kiện, cách giải và điều còn phải kiểm tra. Bài học hướng dẫn dùng bảy thành phần, chọn ngôn ngữ tương xứng với căn cứ và viết điều kiện hành động, để người đọc hiểu cả giá trị lẫn giới hạn của kết luận.
Mục lục bài viết
Lời luận phải cho thấy vì sao
Phần kết luận thường ngắn hơn phần phân tích, nhưng không vì thế mà được bỏ căn cứ. Một lời luận chỉ nói sắp thuận hay nên cẩn thận rất khó sử dụng: người đọc không biết thuận ở đâu, cẩn thận với việc gì và điều kiện nào sẽ làm thay đổi cách hiểu. Cần nén lập luận, chứ không xóa đường đi của lập luận.
Có thể tổ chức nội dung thành bảy phần: tình thế, căn cứ, trọng tâm, cơ hội, rủi ro, hành động và giới hạn. Đây là một khuôn biên soạn giúp kiểm tra độ đầy đủ, không phải bảy câu cổ bắt buộc trong mọi phép luận. Trong bài viết liền mạch, các phần có thể nối vào nhau miễn người đọc vẫn nhận ra chúng.
Quan sát vị trí khác với suy ra tâm lý
Câu một hào ở vị thứ ba và cuối hạ quái là mô tả cấu trúc có thể kiểm ngay trên hình. Câu người hỏi đang nóng vội vượt khỏi chuẩn bị là một suy luận. Suy luận ấy chỉ có chỗ đứng nếu lời hào, chủ đề toàn quẻ hoặc dữ kiện thực tế hỗ trợ. Không nên viết hai câu với cùng giọng chắc chắn như thể chúng đều được nhìn thấy trực tiếp.
Một cách biên tập hữu ích là gạch riêng các câu quan sát, rồi hỏi mỗi câu suy luận dựa vào đâu. Nếu chỉ có một dấu hiệu vị trí, hãy hạ mức khẳng định hoặc giữ nó như câu hỏi cần kiểm tra. Điều này đặc biệt cần với những liên hệ về cảm xúc hoặc ý định của người khác, vốn không thể được tạo thành dữ kiện chỉ nhờ một mô hình quẻ.
Chọn ngôn ngữ theo sức của căn cứ
Có bốn mức diễn đạt hữu ích. Điều xuất hiện trực tiếp có thể mở bằng lời hào nêu hoặc kinh văn cảnh báo. Khi nhiều lớp cấu trúc cùng hỗ trợ, có thể nói trọng tâm nghiêng về một cách hiểu. Khi phép liên hệ hợp lý nhưng còn lựa chọn khác, nên viết trong bối cảnh này có thể hiểu. Khi thiếu dữ liệu, cần giữ thành giả thuyết chờ kiểm tra.
Các mức này không phải phần trăm xác suất. Viết mạnh về cấu trúc không có nghĩa đã tính được khả năng sự kiện xảy ra ngoài đời. Chẳng hạn, nhiều dấu hiệu cùng làm rõ lời cảnh báo tiến quá mức vẫn chưa chứng minh một thiệt hại cụ thể sẽ xảy ra vào một ngày cụ thể. Phạm vi của bằng chứng phải đi cùng phạm vi của câu kết luận.
Dùng điều kiện để nói rõ lựa chọn
Cấu trúc nếu, thì, trừ khi giúp lời luận bớt mơ hồ khi mỗi vế gắn với dữ kiện cụ thể. Nếu một điều kiện đã đủ, hành động nào có cơ sở; nếu chưa đủ, phần nào cần chuẩn bị; nếu xuất hiện thay đổi đáng kể, cách đọc nào phải xét lại? Câu có điều kiện không né tránh lựa chọn, mà làm rõ nền của lựa chọn ấy.
Giả sử một bài đọc đã có căn cứ về việc cần nguồn hỗ trợ phù hợp trước bước chuyển. Lời ứng dụng có thể đề nghị xác định người đủ năng lực và quyền quyết định trước khi mở rộng. Tuy nhiên, phải nói đây là việc cần làm rõ, không tuyên bố chắc chắn có quý nhân. Ví dụ này minh họa cách viết; khi chưa có quẻ và dữ liệu cụ thể, nó chưa phải lời luận cho một trường hợp thật.
Sửa ba kiểu câu dễ vượt quá căn cứ
Câu quẻ tốt nên cứ làm bỏ mất hành động và điều kiện. Có thể sửa thành lời quẻ thuận cho bước đang xét khi những điều kiện đã nêu được đáp ứng. Câu hào năm tốt nên việc này sẽ thắng lấy một vị thay toàn thể; cần trở lại lời hào, thời quẻ và quan hệ giữa các phần. Câu vô cữu nghĩa là không có trở ngại lại nâng không lỗi thành bảo đảm thuận lợi.
Sau khi sửa, đừng chỉ thêm vài chữ có thể vào một khẳng định cũ. Mức chắc chắn còn nằm trong nội dung: phải bỏ chi tiết không có căn cứ, thu hẹp phạm vi và chỉ ra dữ liệu còn thiếu. Một lời dài nhưng chứa nhiều có thể vẫn có thể gây hiểu lầm nếu toàn bộ câu chuyện được dựng từ một hình ảnh đơn lẻ.
Kết thúc bằng điều cần đối chiếu
Phần giới hạn cho biết quẻ chưa đủ để kết luận điều gì. Với một quyết định cụ thể, hồ sơ, số liệu và ý kiến chuyên môn liên quan vẫn cần được xem xét theo đúng chức năng của chúng. Lời quẻ có thể giúp tổ chức câu hỏi về thời, vị và điều kiện; nó không tự cung cấp dữ kiện ngoài thực tế đang thiếu.
Trước khi hoàn tất, kiểm xem lời luận có căn cứ toàn quẻ, phân biệt Kinh với Truyện, giữ điều kiện của đánh giá và nêu một việc có thể quan sát tiếp hay chưa. Sau đó thử xóa những lời gây sợ hoặc tâng bốc mà nội dung không thay đổi. Phần còn lại thường rõ hơn: người đọc hiểu cách suy luận, biết lựa chọn phụ thuộc điều gì và có đường để kiểm tra lại khi tình thế đổi.

